Thứ Tư , 22 / 5 / 2019
Home / Giáo dục / Cần có chính sách đột phá cho các nhóm nghiên cứu trong trường đại học

Cần có chính sách đột phá cho các nhóm nghiên cứu trong trường đại học

Ngày 05/1/2019, trường Đại học Công nghệ, ĐHQGHN đã tổ chức Hi thảr;i[r]=i[r]||function(){">o quốc gia về: “Xây dựng và Phát triển các nhóm nghiên cứu trong các trường đại học Việt Nam”. Thứ trưởng Bgiáo dục và Đàr;i[r]=i[r]||function(){">o tạr;i[r]=i[r]||function(){">o Nguyễn Văn Phúc dự và chỉ đạr;i[r]=i[r]||function(){">o Hi thảr;i[r]=i[r]||function(){">o.

Cần có chính sách đột phá cho các nhóm nghiên cứu trong trường đại học - Ảnh 1.

Các đại biểu tham dự hi thảr;i[r]=i[r]||function(){">o

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, Trưởng Ban Tổ chức, Trưởng Ban Khoa học củr;i[r]=i[r]||function(){">a Hi thảr;i[r]=i[r]||function(){">o cho biết, các nhóm nghiên cứu (NCC) chính là các tế bàr;i[r]=i[r]||function(){">o sống củr;i[r]=i[r]||function(){">a hoạt động khoa học và thậm chí củr;i[r]=i[r]||function(){">a cả hoạt động đàr;i[r]=i[r]||function(){">o tạr;i[r]=i[r]||function(){">o trong các trường đại học. Vì chỉ có xây dựng được các nhóm nghiên cứu mạnh, mới triển khai được các hoạt động nghiên cứu mạnh, đủ sức giải quyết những vấn đề khoa học đỉnh cao củr;i[r]=i[r]||function(){">a ngành và những nhiệm vụ KHCN quan trọng củr;i[r]=i[r]||function(){">a đất nước. Mặt khác đàr;i[r]=i[r]||function(){">o tạr;i[r]=i[r]||function(){">o và phát triển đội ngũ cũng được thông qua hoạt động củr;i[r]=i[r]||function(){">a chính các nhóm nghiên cứu, nhất là đàr;i[r]=i[r]||function(){">o tạr;i[r]=i[r]||function(){">o nghiên cứu sinh.

Hơn nữr;i[r]=i[r]||function(){">a khi nhóm nghiên cứu đã đủ mạnh về nhân lực, CSVC và các nguồn lực khác, lại có thể xây dựng các chương trình đàr;i[r]=i[r]||function(){">o tạr;i[r]=i[r]||function(){">o mới. Thông qua sự phát triển củr;i[r]=i[r]||function(){">a các nhóm nghiên cứu cũng sẽ tăng các công bố quốc tế, từ đó sẽ nâng được thứ bậc và xếp hạng củr;i[r]=i[r]||function(){">a trường đại học. NNC vừr;i[r]=i[r]||function(){">a là phương thức, vừr;i[r]=i[r]||function(){">a là mục tiêu phát triển củr;i[r]=i[r]||function(){">a các trường đại học tiên tiến.

Hiện nay các cơ quan quản lý cấp Bộ, Ngành, cũng như một số đại học, trường đại học định hướng nghiên cứu đã quan tâm và có những chính sách đầu tư cho NNC, nhưng trên thực tế tình hình triển khai các chính sách hỗ trợ này còn chậm.

Điều đó đặt ra mục tiêu phải tìm hiểu, phát hiện và hór;i[r]=i[r]||function(){">a giải những bất cập để những chính sách hỗ trợ NNC đi nhanh và hiệu quả vàr;i[r]=i[r]||function(){">o thực tiễn, nhân rộng trong các trường đại học, từ đó trực tiếp r;i[r]=i[r]||function(){">góp phần nâng cao chất lượng đàr;i[r]=i[r]||function(){">o tạr;i[r]=i[r]||function(){">o; đẩy nhanh số lượng và nâng cao chất lượng các công bố quốc tế, qua đó nâng cao thứ hạng các trường đại học Việt Nam trong các bảng xếp hạng đại học củr;i[r]=i[r]||function(){">a khu vực và thế giới.

Đã có 945 nhóm nghiên cứu trong trường đại học

Tại hi thảr;i[r]=i[r]||function(){">o,GS.TSKH Nguyễn Đình Đức và cộng sự đã đưr;i[r]=i[r]||function(){">a ra một khảr;i[r]=i[r]||function(){">o sát quan trọng củr;i[r]=i[r]||function(){">a nhóm thực hiện đề tài với các giảng viên ở 40 trường đại học, kết quả cho thấy có 58,8% (127/216) khẳng định đang tham gia các NNC.

Trên cơ sở khảr;i[r]=i[r]||function(){">o sát từ 142/271 trường đại học, hiện nay trong hệ thống các trường đại học đã hình thành 945 NNC, một trường đại học có trung bình 7 NNC”. Độ tuổi đông nhất củr;i[r]=i[r]||function(){">a các thành viên trong NNC là ở lứr;i[r]=i[r]||function(){">a tuổi từ 35-45 là 59,2%.

Các kết quả khảr;i[r]=i[r]||function(){">o sát cũng ghi nhận, nhiều NNC mới được tạr;i[r]=i[r]||function(){">o lập từ 2017 trở lại đây. Điều này có thể lý giải bi áp lực củr;i[r]=i[r]||function(){">a yêu cầu về công bố quốc tế với độ ngũ giảng viên và NCS.

Đóng r;i[r]=i[r]||function(){">góp lớn nhất củr;i[r]=i[r]||function(){">a các NNC trong 5 năm qua là đã tạr;i[r]=i[r]||function(){">o được sự chuyển biến đột phá về chất lượng.

Đến nay, 80% các NCS trong lĩnh vực KHTN- CN củr;i[r]=i[r]||function(){">a ĐHQGHN, cũng như nhiều NCS củr;i[r]=i[r]||function(){">a trường ĐH Bách Khoa Hà Nội, ĐH Y Hà Nội, ĐH Tôn Đức Thắng, ĐH Duy Tân và nhiều trường đại học khác, nhờ trưởng thành trong các NNC nên khi br;i[r]=i[r]||function(){">o vệ luận án TS đều đã có công bố quốc tế ISI.

GS Đức cho hay, các kết quả khảr;i[r]=i[r]||function(){">o sát củr;i[r]=i[r]||function(){">a chúng tôi cho kết quả 65,3% các giảng viên tham gia các NNC đã có các công bố trên các tạp chí ISI/Scopus. Nhờ nâng chuẩn chất lượng và có chính sách hỗ trợ cho nghiên cứu và các NNC, công bố quốc tế củr;i[r]=i[r]||function(){">a Việt Nam đã đặc biệt tăng mạnh trong 5 năm r;i[r]=i[r]||function(){">gần đây.

Ví dụ, năm 2013, tổng công bố quốc tế củr;i[r]=i[r]||function(){">a cả Việt Nam hết sức khiêm tốn, ở mức 2309 bài, thì theo thống kê mới đây nhất củr;i[r]=i[r]||function(){">a nhóm nghiên cứu độc lập củr;i[r]=i[r]||function(){">a trường ĐH Duy Tân, tính từ 2017 đến thời điểm công bố vàr;i[r]=i[r]||function(){">o tháng 6/2018, chỉ riêng các công bố quốc tế củr;i[r]=i[r]||function(){">a 30 trường đại học Việt Nam hàng đầu trong danh sách này đã đạt 10.515 bài, và hơn cả giai đr;i[r]=i[r]||function(){">oạn 5 năm trước 2011-2015, khi đó toàn Việt Nam, trong 5 năm mới có 10.034 bài. Có thể nhận thấy sự gia tăng các công bố quốc tế tỷ lệ thuận với sự gia tăng các NNC trong các trường đại học củr;i[r]=i[r]||function(){">a Việt Nam.

Cần có chính sách đột phá cho các nhóm nghiên cứu trong trường đại học - Ảnh 2.

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức: “Các NNC chính là môi trường để các nhà khoa học được thể hiện và phát huy năng lực chuyên môn trong đàr;i[r]=i[r]||function(){">o tạr;i[r]=i[r]||function(){">o và nghiên cứu”.

5 hạn chế cản bước nhóm nghiên cứu

Cũng theo khảr;i[r]=i[r]||function(){">o sát, NNC trong các lĩnh vực cũng không đồng đều và có sự chênh lệch khá lớn: KHTN: 40,2%; Công nghệ – kỹ thuật chiếm 37%; Xã hội nhân văn chiếm 22,8% và Kinh tế – Luật chỉ chiếm 10,2%; trong khi Khoa học Giáo dục chỉ chiếm 1,6%.

Khảr;i[r]=i[r]||function(){">o sát cũng đã chỉ ra những tồn tại, hạn chế chủ yếu củr;i[r]=i[r]||function(){">a các NNC hiện nay ở Việt Nam là:

Thứ nhất, số lượng các công bố quốc tế củr;i[r]=i[r]||function(){">a các NNC còn khá khiêm tốn. Trong đó có 37,5% số thầy cô được hi chưr;i[r]=i[r]||function(){">a có công bố quốc tế ISI/Scopus, và 34,7% chưr;i[r]=i[r]||function(){">a có công bố quốc tế nàr;i[r]=i[r]||function(){">o khác. Số các giảng viên có công bố quốc tế ISI/Scopus trên 5 bài chỉ có 34,2%. 32,9% chưr;i[r]=i[r]||function(){">a có sách chuyên khảr;i[r]=i[r]||function(){">o nàr;i[r]=i[r]||function(){">o.

Thứ hai, còn thiếu cán bộ khoa học đầu ngành dẫn dắt NNC. Kết quả khảr;i[r]=i[r]||function(){">o sát mới cho thấy trong số các cán bộ được hi mới có 75% các NNC là do các GS, PGS dẫn dắt. Bên cạnh đó, kết quả khảr;i[r]=i[r]||function(){">o sát đánh cho thấy 96% cho rằng vai trò dẫn dắt củr;i[r]=i[r]||function(){">a người trưởng nhóm rất quan trọng, 97,6% cho rằng bên cạnh người trưởng nhóm, chất lượng các thành viên tham gia NNC cũng đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì và phát triển NNC.

Thứ ba, nguồn lực đầu tư cho các NNC còn hạn chế. Kinh phí cho các đề tài rất khiêm tốn và thường bị cấp chậm. Có đến 93,7% số người được hi cho rằng kinh phí để đầu tư cho NNC có vai trò hết quan trọng trong việc duy trì và phát triển NNC.

Qua phỏng vấn sâu các trưởng NNC cho thấy, kinh phí cần được hỗ trợ bên cạnh để chi trực tiếp cho hoạt động chuyên môn, còn cần để thu hút nhân tài, thu hút các TS trẻ làm post-doctoral trong nhóm, thu hút các NCS và các sinh viên tài năng (nhằm duy trì đội ngũ này làm việc trong NNC, thay vì các em đã được đàr;i[r]=i[r]||function(){">o tạr;i[r]=i[r]||function(){">o nhưng sau khi tốt nghiệp lại phải đi làm ở ngoài doanh nghiệp).

Thứ tư, CSVC, thiết bị đầu tư cho nghiên cứu không có, hoặc rất thiếu, hoặc không đồng bộ.

Thứ năm, chưr;i[r]=i[r]||function(){">a có những cơ chế chính sách mạnh để hỗ trợ và thúc đẩy shình thành và phát triển các NNC trong các trường đại học. Nếu có shỗ trợ cũng là mức kinh phí rất nhỏ.

Quốc tế hór;i[r]=i[r]||function(){">a trong các hoạt động nghiên cứu chưr;i[r]=i[r]||function(){">a cao

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức cho rằng, nguyên nhân chính củr;i[r]=i[r]||function(){">a những hạn chế tồn tại nêu trên trước hết xuất phát từ chủ quan các cán bộ giảng viên còn chưr;i[r]=i[r]||function(){">a ý thức được đầy đủ việc r;i[r]=i[r]||function(){">gắn kết công tác đàr;i[r]=i[r]||function(){">o tạr;i[r]=i[r]||function(){">o với nghiên cứu, và chưr;i[r]=i[r]||function(){">a ý thức được tầm quan trọng củr;i[r]=i[r]||function(){">a việc làm việc và rèn luyện, nâng cao năng lực và trình độ chuyên môn thông qua NNC.

Qua khảr;i[r]=i[r]||function(){">o sát còn có 2,2% trả lời không có nhu cầu tham gia NNC và 15,7% trả lời chưr;i[r]=i[r]||function(){">a rõ được lợi ích củr;i[r]=i[r]||function(){">a việc tham gia các NNC. Thứ đến là chính sách hỗ trợ , khuyến khích củr;i[r]=i[r]||function(){">a đơn vị đàr;i[r]=i[r]||function(){">o tạr;i[r]=i[r]||function(){">o cho các NNC hoặc chưr;i[r]=i[r]||function(){">a có, hoặc chưr;i[r]=i[r]||function(){">a cụ thể, hoặc còn chưr;i[r]=i[r]||function(){">a đáng kể, tức là chính đơn vị đàr;i[r]=i[r]||function(){">o tạr;i[r]=i[r]||function(){">o cũng chưr;i[r]=i[r]||function(){">a có những giải pháp quyết liệt để đầu tư cho các NNC.

Và nguyên nhân đặc biệt quan trọng mà GS Đức đưr;i[r]=i[r]||function(){">a ra là shi nhập quốc tế trong các nghiên cứu củr;i[r]=i[r]||function(){">a các nhà khoa học và mức độ quốc tế hór;i[r]=i[r]||function(){">a trong các hoạt động củr;i[r]=i[r]||function(){">a nhiều trường đại học Việt Nam còn chưr;i[r]=i[r]||function(){">a cao. Có đến 16,7% các cán bộ giảng viên được hi trả lời chưr;i[r]=i[r]||function(){">a từng tham gia hi nghị quốc tế nàr;i[r]=i[r]||function(){">o (được tổ chức ở trong cũng như ngoài nước).

GS Nguyễn Đình Đức cho rằng, để chúng ta có thể nắm bắt được những cơ hi củr;i[r]=i[r]||function(){">a củr;i[r]=i[r]||function(){">a cách mạng công nghiệp lần thứ 4, không chỉ cần nguồn nhân lực chất lượng cao mà cần có nhân tài. Chính vì vậy, các NNC cũng không là ngoại lệ và vấn đề thu hút nhân tài cũng là thách thức lớn đặt ra với các NNC trong các trường đại học ở Việt Nam hiện nay.

Việc thu hút và trọng dụng tài năng trí thức (trong và ngoài nước) trong các trường đại học phải được thực hiện trong mô hình củr;i[r]=i[r]||function(){">a các NNC, vì các NNC chính là môi trường để các nhà khoa học được thể hiện và phát huy năng lực chuyên môn trong đàr;i[r]=i[r]||function(){">o tạr;i[r]=i[r]||function(){">o và nghiên cứu.

Để khắc phục những hạn chế tồn tại và những nguyên nhân chủ yếu nêu trên, cũng như thu hút được nhân tài, đáp ứng được xu thế phát triển và vận động khách quan củr;i[r]=i[r]||function(){">a các NNC, nhóm nghiên cứu khảr;i[r]=i[r]||function(){">o sát kiến nghị Nhà nước, BGiáo dục và Đàr;i[r]=i[r]||function(){">o tạr;i[r]=i[r]||function(){">o cần sớm xây dựng chính sách hỗ trợ cho việc xây dựng và phát triển các NNC trong các trường đại học.

Theo GS Đức, thực tế cho thấy các NNC thuộc các lĩnh vực khác nhau cần có những chính sách khác nhau. Các NNC cũng có quy mô, trình độ và thành tích nghiên cứu, đàr;i[r]=i[r]||function(){">o tạr;i[r]=i[r]||function(){">o nghiên cứu, uy tín và khả năng kết nối, hợp tác trong ngoài nước rất khác nhau, vì vậy, các chính sách cũng cần xây dựng các tiêu chí đánh giá phù hợp với từng đối tượng để đảm br;i[r]=i[r]||function(){">o đầu tư không lãng phí, tránh càr;i[r]=i[r]||function(){">o bằng và đem lại hiệu quả cao nhất.

“Chúng tôi đề xuất có thể xây dựng các tiêu chí để phân biệt các NNC thành 3 loạibản: NNC cấp cơ sgiáo dục đại học, NNC mạnh cấp quốc gia và NNC quốc tế để có những cơ chế chính sách đầu tư và yêu cầu về chuẩn đầu ra phù hợp” – GS Đức nhấn mạnh.

Cần có chính sách đột phá cho các nhóm nghiên cứu trong trường đại học - Ảnh 3.

Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Văn Phúc

Phát biểu tại hi thảr;i[r]=i[r]||function(){">o, Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Văn Phúc khẳng định: “Trong thời gian tới, để thúc đẩy sự phát triển củr;i[r]=i[r]||function(){">a nghiên cứu khoa học trong các cơ sgiáo dục đại học thì Bộ GD&ĐT và Bộ KHCN sẽ tham mưu Chính phủ xây dựng cơ chế chính sách để hình thành cơ sgiáo dục đại học định hướng nghiên cứu mạnh thực sự và sống được bằng khoa học”.

Nhật Hồng

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *